Chuyển đến nội dung chính

Sửa soạn ống tủy bằng trâm ProTaper

 

1. Giới thiệu trâm Protaper

Trâm ProTaper NiTi (Dentsply Maillefer, Ballaigues, ThụSĩ) đại diện thay mặt cho một thế hệ trâm tạo dạng ống tủy mới. Điểm sáng độc đáo và khác biệt của những công cụ ProTaper là mỗi trâm ProTaper có sự biến hóa độ thuôn dọc từ chiều dài lưỡi cắt của nó .

Trâm ProTaper cũng đều có mặt cắt hình tam giác lồi, góc xoắn và bước xoắn biến đổi dọc từ lưỡi cắt, lưỡi không cắt và đầu hướng dẫn biến chứng .

khối hệ thống ProTaper bao hàm ba trâm Tạo dạng & ba trâm Hoàn tất..

2. Những trâm Protaper

Trâm Protaper tạo dạng hàng đầu (S1) và trâm tạo dạng số 2 (S2), lần lượt có vòng nhận biết màu tím trắng bên trên tay cầm. Các trâm S1 & S2 có đường kính D0 lần lượt là 0,17 và 0,20mm, và 2 lần bán kính D14 tối đa đạt đến 1,2 mm.

Trâm tạo dạng phụ trợ (Sx) không tồn tại vòng nhận dạng trên trục màu vàng của chính nó và chiều dài toàn thể ngắn lại 19mm. Sx có 2 lần bán kính D0 là 0,19mm và 2 lần bán kính D14 xấp xỉ 1,20 mm.

các trâm tạo dạng có % độ thuôn tăng dần dọc từ chiều dài lưỡi cắt, được cho phép mỗi trâm giao tiếp , cắt và sửa soạn một vị thế cụ thể trong trái tim đường ống tủy, & cho ra hình dạng ống dẫn tủy được sửa soạn mật thiết theo phương pháp Crown-down”.

so với những trâm Protaper tạo dạng khác, trâm Sx có độ biến hóa độ thuôn nhiều hơn từ D1 đến D9, nên trâm Sx chủ yếu được lạm dụng để nổi trội hóa tạo dạng đường ống dẫn tủy ở các răng bị gãy ở cổ răng hoặc có chiều dài đường ống dẫn tủy ngắn.

Ba trâm hoàn tất F1, F2 và F3 có các vòng nhận dạng màu vàng , đỏ & xanh da trời bên trên trục, tương thích với 2 lần bán kính D0 và độ thuôn lần lượt là 20/07, 25/08 và 30/09. Từ D4 đến D14 mỗi trâm có độ thuôn giảm dần.2

Trâm protaper s1 s2

Hình 1. Trâm protaper tạo dạng S1 và S2 đều phải sở hữu độ thuôn tăng dần dọc theo chiều dài lưỡi cắt của chúng, đặc trưng cho kỹ thuật sửa soạn “Crown-down”

Đường kính trâm protaper

Hình 2. Các trâm protaper hoàn tất có 2 lần bán kính D0 và độ thuôn biến tướng , hài hòa với 1/3 thân của ống tủy

Thiết diện cắt ngang trâm protaper

Hình 3. Thiết diện cắt ngang của trâm Protaper với mặt cắt hình tam giác lồi, góc xoắn và bước xoắn đổi khác dọc theo lưỡi cắt

3. Quy trình sửa soạn đường ống tủy bằng trâm Protaper

Việc sửa soạn đường ống dẫn tủy sẽ tiện lợi hơn lúc các trâm đi ngang qua lỗ mở vào buồng tủy, thuận tiện trượt xuống thành buồng tủy vào lỗ ống dẫn tủy chân răng.

khả năng tạo dạng các đường ống tủy đồng đều và làm sạch hệ thống đường ống dẫn tủy sẽ tăng thêm đáng kể lúc 2/3 trên của đường ống tủy được lan rộng ra trước & sau đó mới đến quá trình sửa soạn một phần ba chóp chân răng, Ảnh

Hình ảnh mở tủy

Hình 4. Ảnh mở tủy với những lối vào thẳng , những thành trục phần kỳ và quan sát đc rõ những lỗ vào ống tủy

3.1 Thăm dò 2/3 cổ ống dẫn tủy


sau khoản thời gian mở tủy, buồng tủy nên đc bơm đầy bằng chelator và/hoặc dung dịch bơm rửa. Dựa theo Hình ảnh X-quang trước mẹo nhỏ, K-file số 10 và số 15, độ thuôn 0.02 theo tiêu chuẩn ISO được đo & uốn cong nhẹ trước để hợp với chiều dài thao tác dự đoán ​​và độ cong của đường ống dẫn tủy.

mặc dù thế , các trâm này ban sơ chỉ tiếp cận đến đến 2/3 cổ của đường ống dẫn tủy. Kế tiếp K-File #10 và #15 tiếp tục đc lạm dụng quá cho tới khi có xúc cảm lỏng tay & đường truyền “glide path” đc cài đặt .

Đo độ sâu lỏng tay của trâm #15 bây giờ & chuyển giá trị độ sâu ống dẫn tủy này sang cho trâm ProTaper S1 & S2.

Thăm dò ống tủy với trâm K-file số 10

Hình 5. Thăm dò ống tủy với trâm K-file số #10

3.2 Tạo dạng 2/3 cổ ống tủy

sau thời điểm đường trượt “glide path” được tạo thành nối liền , 2/3 cổ của đường ống tủy nên đc lan rộng ra trước bằng cách dùng lần lượt trâm S1 rồi đến S2.

trước lúc thuở đầu chu trình tạo dạng này, cần bơm rửa với dung dịch NaOCl 5.25%. Trâm tạo dạng ProTaper nên “trôi” thụ động xuôi theo đường trượt xuống ống dẫn tủy mà không chịu những gánh nặng .

Để nổi trội hóa sự bình yên & kết quả , các trâm tạo dạng được sử dụng như một "cái cọ vẽ", cắt ngà chọn lựa về phía bên lúc tiến hành hành động miết lôi ra .

động tác cử chỉ miết trâm vào thành ống dẫn tủy tạo ra khoảng trống phía bên và giúp cho những trâm tạo dạng to hơn , cứng hơn & có lưỡi cắt chủ động hơn mà thậm chí tiến một cách bình an xuống sâu trong ống dẫn tủy.

bất kì một khi trâm ProTaper không hề tiến vào theo đường trượt đã được thiết đặt thì phải rút ra để chu chỉnh liệu những mảnh vụn ngà kẹt trong số rãnh cắt đã che mất lưỡi cắt hay là không.

Cứ mỗi đợt lấy trâm tạo dạng ra, cần quan sát kĩ chỗ đứng của vụn ngà dọc theo các lưỡi cắt để xác định chỗ đứng của phần ống dẫn tủy đang đc sửa soạn.

công đoạn khám chữa cần tuân thủ chu trình lạm dụng quá trâm tạo dạng, bơm rửa, chu chỉnh lại sự tiếp liền chiều dài bằng trâm #10. Nếu có vụn ngà làm tắc đường ống dẫn tủy thì trâm này sẽ phá vỡ những mảnh vụn & tiếp nối được lấy sạch bằng dung dịch bơm rửa.

Không tạo những gánh nặng , sử dụng quá tới lui một hoặc nhiều lần , S1 rồi đến S2, lặp lại cử chỉ cho tới lúc đạt đủ chiều dài thăm dò của file #15 sửa soan

Sua soan ong tuy voi tram s1

Hình 6. Sửa soạn với trâm S1

Trâm S2 tiếp theo trâm S1 cho đến khi đi đến chiều dài làm việc của K-file số #15


Hình 7. Trâm S2 tiếp sau trâm S1 cho đến lúc đi đến chiều dài thao tác làm việc của K-file số #15

3.3 Thăm dò 1/3 chóp

khi 2/3 cổ của đường ống dẫn tủy đã được tạo dạng, việc tiếp theo là quá trình sửa soạn 1/3 chóp.

Với buồng tủy đc bơm rửa đầy đủ bằng chelator hoặc những dung dịch bơm rửa, 1/3 chóp của ống tủy có thể được thăm dò và mở rộng đến ít nhất là file số #15 (tương đương đường kính 0.15mm) và thiết đặt đường vào đường ống dẫn tủy cũng như chiều dài thao tác làm việc.

giờ đây , cần chọn lựa giữa trâm máy hoặc trâm tay để hoàn tất việc sửa soạn 1/3 chóp. Nếu cảm nhận file số #15 mới & thẳng thậm chí trượt nhẹ dịu và thụ động theo đường trượt đi hết chiều dài làm việc thì những trâm sửa soạn bằng máy cũng đều có thể dần đi xuống theo đường trượt này.

mặc dù vậy , một vài đường ống dẫn tủy có hình dạng giải phẫu khó, đòi hỏi phải sử dụng quá các trâm tay số #10 & #15 đã đc uốn cong trước theo động tác quay tới quay lui để xuống được hết chiều dài làm việc .

lúc đường trượt không tiếp liền lý tưởng thì 1/3 chóp của ống dẫn tủy có thể đc sửa soạn với các trâm cầm tay ProTaper đc uốn cong trước.

3.4 Tạo dạng 1/3 chóp

lúc 1/3 chóp đã đc thăm dò & đường trượt đã được thiết lập , bơm rửa đường ống tủy bằng dung dịch NaOCl. Sử dụng lần lượt S1 & S2 đi đến hết chiều dài thao tác làm việc .

các thao tác làm việc trượt & miết trâm như diễn đạt ở bên trên đc áp dụng cho đến lúc đạt đến chóp đường ống dẫn tủy. Những trâm S1 và S2 thường sẽ đạt đến chiều dài ống tủy sau một hoặc nhiều đợt thao tác dính vào độ dài, đường kính & độ cong của ống dẫn tủy.

Sau mỗi trâm ProTaper là quá trình bơm rửa, kiểm nghiệm lại sự gắn liền chiều dài bằng trâm #10 & bơm rửa lại. Sau khi sử dụng các trâm tạo dạng, đặc biệt là với những ống dẫn tủy cong, chiều dài thao tác làm việc nên đc kiểm nghiệm lại chính vì chu trình này sẽ phân thành một đường thẳng hơn xuống chóp.

Đến mức độ này của quá trình khám chữa , việc sửa soạn có thể được kết thúc bằng cách dùng một hoặc nhiều trâm hoàn tất ProTaper bằng hành động “không chải” (nonbrushing). Trâm F1 được lạm dụng quá để di chuyển thụ động sâu hơn vào ống dẫn tủy, trong một hoặc nhiều lần thực hiện cho tới khi tới chóp chân răng.

khi F1 đạt được chiều dài, trâm đc rút ra, kiểm tra nếu các rãnh của chính nó được lắp đầy bởi mùn ngà thì đó là dấu hiệu chứng minh ống tủy đã được cắt tạo dạng. Tiếp sau đó, thực hiện việc bơm rửa, định vị lại chiều dài làm việc , bơm rửa lại để gia công sạch đường ống tủy.

4. Tiêu chuẩn hoàn tất trâm Protaper


Sau khi dùng xong xuôi trâm F1 20/07, lỗ chóp được đo form size bằng trâm K 20/02 để xác định liệu trâm này bít khít hoặc lỏng lẻo với chiều dài thao tác .

Nếu tại chiều dài làm việc , K-file #20 khít chặt, ống dẫn tủy đã được tạo dạng không thiếu thốn và nếu chu trình bơm rửa tuân hành đúng chuẩn mức thì thậm chí sẵn sàng trám bít. Nếu K-file #20 lỏng thì chuyển hẳn sang K-file #25 độ thuôn 0.02 để đo tiếp.

Nếu K-file #25 khít chặt ở chiều dài làm việc thì ống dẫn tủy đã đc tao dạng khá đầy đủ chuẩn bị trám bít. Nếu K-file #25 chưa đến chiều dài thao tác , lạm dụng quá Protaper F2 25/08 và lúc quan trọng, thậm chí sử dụng quá đến F3 30/09.

Sau tạo dạng hoàn tất bằng mỗi trâm Protaper, sử dụng trâm tay có form size thích ứng để đo lại.

Tram protaper may di het chieu dai lam viec

Hình 8. Sau khi trâm máy F1 20/07 đi đến hết chiều dài thao tác , đo lỗ chóp bằng K-file 20/02

Tram protaper s2 di het chieu dai lam viec


Hình 9. Sau khi trâm máy F2 25/08 đạt đến chiều dài thao tác làm việc , đo form size lỗ chóp bằng trâm tay K-file 25/02

tóm lại

  • Mở lối vào ống dẫn tủy thẳng.
  • lạm dụng trâm K-file số #10 và #15 để thăm dò và tiếp đến chiều dài đường ống tủy.
  • Nếu trực tiếp, có thể sử dụng trâm Protaper SX để mở rộng , làm loe lối vào ống dẫn tủy.
  • Đo & định vị chiều dài thao tác bằng K-file số #15.
  • lạm dụng trâm ProTaper S1 đưa vào ống tủy, thực hiện động tác xoay tròn cùng chiều kim đồng hồ đeo tay cho tới lúc có lực cản thì ngưng lại. Tiếp nối , xoay ngược chiều kim đồng hồ để rút công cụ ra và bơm rửa.
  • sau khoản thời gian rút dụng cụ Protaper ra, bơm rửa, dùng trâm tay K-file số #15 để đi lại hết chiều dài ống dẫn tủy và bơm rửa.
  • không ngừng dùng trâm S1 xoay theo chiều kim đồng hồ , nhẹ dịu đến hết lúc chặt tay, xoay ngược chiều kim đồng hồ đeo tay để gia công lỏng trâm rồi rút ra, bơm rửa. Dùng trâm K-file số #15 để kiểm nghiệm lại độ gắn liền trong quãng chiều dài ống tủy.
  • Lặp lại công đoạn sửa soạn đường ống tủy bằng trâm S1 đến hết chiều dài thao tác làm việc .
  • tương tự , sửa soạn ống dẫn tủy tới đúng chiều dài thao tác làm việc với trâm S2, F1, F2, F3. Với các đường ống tủy rộng hơn, mà thậm chí sử dụng đến trâm F4, F5.
  • Nên sử dụng quá Glyde (EDTA) mỗi một khi biến hóa trâm ProTaper. Lúc rút trâm ra, kiểm nghiệm mùn ngà, làm sạch trâm & kiểm định các chứng trạng trâm bị giãn/xoắn (nếu có).
  • sử dụng trâm ProTaper với động tác xoay tròn nhẹ nhàng & liên tục . Không tạo những áp lực về phía chóp răng cũng như thành đường ống dẫn tủy để ngăn cản tạo khấc, lệch lỗ chóp chân răng hoặc lệch đường vào đường ống tủy.

Nhận xét

Bài đăng phổ biến từ blog này

Thắc mắc thường gặp về keo dán Universal

  nguyên liệu dán ngà có tầm quan trọng quan trọng trong việc bít bí ẩn ngà răng & lưu giữ cho những tái khôi phục trực tiếp hoặc gián tiếp trong các nha sĩ. Tăng kinh nghiệm dán dính bên trên ngà răng còn tạo ĐK dễ dãi cho những khôi phục xâm lấn tối thiểu, những nhà lâm sàng có thể lược bỏ công việc tạo lưu giữ cho xoang trám cổ điển bằng những vật liệu không có tác dụng dán dính như amalgam... Keo dán bên trên men của răng đã được công bố lần đầu vào năm 1955 bởi Buonocore và biến thành một thực thể quan trọng đẩy mạnh sự đi lên của vật liệu Resin composite. Dẫu thế, ngà răng với cấu trúc quan trọng đặc biệt chứa cơ quan hữu cơ và nước, cho nên việc dán trên ngà răng thật sự là một trong những thử thách lớn đối với dán bên trên men bọc răng . Lúc đầu, những vật liệu dán thực chất resin xâm nhập vào lớp mùn ngà, cho đến lúc những phân tích đã cho thấy lớp mùn ngà này không kết dính xuất sắc với lớp ngà răng bên dưới. Căn cứ vào quá trình tiến hành trong quy trình sử dụng, ngu...

Dung dịch bơm rửa tủy EDTA & Chlorhexidine

  thường xuyên loạt bài Tổng quan các   dung dịch bơm rửa tủy răng nội nha . Trong phần 1: Bạn đã hiểu hơn   dung dịch NaOCl là gì? Cách chuyển động dung dịch bơm rửa NaOCl . Trong phần 2 các bạn sẽ hiểu thêm về  dung dịch bơm rửa tủy EDTA & Chlorhexidine : Cách chuyển động để tăng công dụng , & công dụng của dung dịch đối với tủy răng. công dụng dung dịch bơm rửa tủy EDTA EDTA phản ứng với các ion canxi của ngà răng và tạo thành những chelate canxi mà thậm chí hòa tan. Những báo cáo cho biết rằng EDTA đã khử mất canxi của ngà răng đến độ sâu 20–30 μm trong 5 phút. các dung dịch bơm rửa tủy EDTA tại nhavietdental Dung dịch bơm rửa tủy EDTA Largal Ultra Dung dịch bơm rửa EDTA Largal Ultra Dung dịch bơm rửa tủy EDTA MD-Cleanser Dung dịch bơm rửa tủy EDTA MD-Cleanser cách dùng & hoạt động dung dịch EDTA thời gian để loại bỏ lớp mùn ngà Việc bơm rửa liên tục bằng 5 ml EDTA 17%, là bước bơm rửa cuối cùng được tiến hành trong tầm 3 phút để thải trừ công dụng lớ...

Vật liệu lấy dấu Alginate trong nha khoa

  Alginate là gì? Axit alginic , nói một cách khác là algin, là 1 trong những polysacarit phân bố rộng rãi trong thành các tế bào của tảo nâu có tính ưa nước và hình thành dạng gel khi ngậm nước. Muối của Axit alginic với các kim loại như natri, kali và canxi, được có tên thường gọi là  Alginate . Công thức Alginate Natri alginate là gì? Alginate đc tinh chế từ rong biển gray clolor, thường gọi là tảo nâu. Một loạt những loại rong biển màu nâu thuộc lớp Phaeophyceae được thu hoạch bên trên khắp thế giới để thay đổi thành nguyên vật liệu thô thường được có tên gọi là  natri alginate . Natri alginate đc sử dụng quá thoáng rộng trong vô số ngành công nghiệp bao hàm đồ ăn, in dệt, y khoa & dược phẩm. Trong các nha sĩ ,  alginate  đc lạm dụng quá thoáng rộng nhờ đặc tính tạo dạng gel để tạo khuôn, sửa chữa cho chất lấy dấu thạch cao hay agar trước trên đây . phần tử Alginate trong nha khoa Alginate đc hỗ trợ dưới dạng bột, gồm những thành phần như sau: Potassium ...