một trong những vật liệu đã đc lời khuyên sử dụng quá trong công việc che tủy mật thiết . Điều thú vị là Dường như chưa tồn tại loại nguyên liệu nào đc các nhà thực hành lâm sàng mếm mộ tuyệt đối hoàn hảo .
Trong một cuộc điều tra trong số đó các người hành nghề tư nhân được đặt ra những câu hỏi chúng ta lạm dụng vật liệu che tủy nào, các người được đặt ra những câu hỏi đã liệt kê bốn loại nguyên liệu khác biệt , không tồn tại nguyên vật liệu nào được chủ yếu quý khách hàng ưa thích.
Phần này sẽ Để ý đến những dẫn chứng về công dụng và điểm yếu của Top 5 loại nguyên vật liệu che tủy quan trọng trong nha khoa khác nhau đã đc lạm dụng quá để che tủy trực tiếp .
1. Che tủy quan trọng Zinc Oxide Eugenol (ZOE)
công dụng của Zinc Oxide Eugenol
Công thức Zinc Oxide Eugenol (ZOE) đã được lạm dụng trong bác sĩ nha khoa trong nhiều năm làm nền, lớp lót, xi măng và nguyên liệu phục hồi tạm thời .

điểm yếu của Zinc Oxide Eugenol
dẫu thế , việc sử dụng nó để che tủy mật thiết vẫn còn đấy nhiều nghi vấn . Eugenol rất độc các tế bào.
được biết rằng ZOE giải phóng eugenol ở nồng độ có thể gây độc các cấu trúc tế bào. ZOE cũng cho biết thêm sự rò rỉ cao.
mặc dầu người ta đã cân nhắc rằng sự rò rỉ này không quan trọng vì ZOE thậm chí cung ứng khả năng bít bí ẩn sinh học, cần Để ý đến rằng giải phóng eugenol giảm bất thần theo khoảng thời gian, và kinh nghiệm của ZOE trong công việc làm chết vi khuẩn sẽ bớt khi nó lưu hành càng lâu trong miệng.
đánh giá này chỉ tìm thấy một phân tích lâm sàng trên quý khách hàng ZOE làm chất che tủy quan trọng .
Trong nghiên cứu và phân tích này, cục bộ những răng đc che tủy bằng ZOE đều sở hữu triệu chứng viêm mãn tính , không chữa lành tủy & không hình thành cầu ngà sau 12 tuần sau thực hiện thủ thuật .
Ngược lại, toàn bộ những răng đối chứng được che tủy bằng canxi hydroxit cho thấy sự lành thương trong khoảng bốn tuần.
xem thêm những sản phẩm che tủy trực tiếp có chứa Zinc Oxide Eugenol
2. Glass Ionomer (GI) / Glass Ionomer Resin-Modifed (RMGI)
Glass Ionomer dù cho không gây độc tế bào như ZOE, GI / RMGI cũng gây độc tế bào khi tiếp xúc quan trọng với các cấu trúc tế bào . Những công thức thông thường có Xu thế ít độc hơn so với các công thức đc biến đổi từ nhựa resin.

tác dụng Glass Ionomer Resin-Modifed (RMGI)
điều này đừng nên đc hiểu là 1 trong dẫn chứng chống lại việc sử dụng GI / RMGI trong số xoang sâu. Do kinh nghiệm liên kết hóa học của glass ionomer với kết cấu răng, nó mà thậm chí ngăn ngừa sự khuếch tán của những vật liệu độc hại tiềm ẩn qua ngà răng đến tủy răng.
Glass ionomer cũng cung cấp một lớp niêm phong vi khuẩn tuyệt vời & cho biết thêm kinh nghiệm tương đồng sinh học tốt khi đc lạm dụng gần nhưng không giao tiếp mật thiết với tủy răng.
hệt như với ZOE, bình chọn này chỉ tìm thấy một phân tích trên người về sự việc che tủy trực tiếp bằng glass ionomer — trong tình huống này — RMGI.
điểm yếu kém của Glass Ionomer Resin-Modifed
Che tủy răng mật thiết với RMGI cho thấy thêm chứng trạng viêm khó chữa & thiếu sự biến thành cầu ngà răng lên tới mức 300 ngày sau thời điểm đóng tủy răng, còn mặt khác đó, những nhóm chứng sử dụng canxi hydroxit cho biết thêm kinh nghiệm lành vết thương giỏi hơn đáng kể .
3. Tác dụng & điểm yếu hệ thống kết dính
hệ thống kết dính đã được lời chỉ bảo sử dụng như một chất che tủy trực tiếp kim chỉ nam từ khoảng 12–15 năm kia phía trên . Tương tự như hai chất che tủy bên trên , toàn bộ những thành phần của hệ thống kết dính đã đc chứng tỏ là gây độc tế bào đối với các tế bào tủy răng.
tác động độc hại của các cơ quan khác nhau của chất kết dính có tác dụng hiệp đồng, nhất là lúc số giờ tiếp xúc với tủy răng kéo dài trong suốt thời gian .
Độc tính đc thấy ở cả khối hệ thống kết dính đa bộ phận & một bộ phận , và các bộ phận không đc trùng hợp sẽ độc hơn lúc chất kết dính đc polyme hóa tốt .
Mối xem xét việc sử dụng quá chất kết dính để che tủy, ít nhất 1 phần , bởi thực chất là giữa những nghiên cứu và phân tích không thuộc loài linh trưởng đã phát hiện ra rằng việc tiếp xúc với tủy răng bị giới hạn bởi chất kết dính nói tóm lại kéo đến việc chữa lành tủy.
so sánh canxi hydroxit với khối hệ thống kết dính
những công dụng này không đc ưng ý , vì trong những nghiên cứu và phân tích không thuộc linh trưởng cho biết thêm kinh nghiệm lành vết thương kém hơn sau thời điểm che tủy bằng chất kết dính đối với canxi hydroxit.
trong số những phân tích về trường hợp lộ tủy cơ học, khỏi bị nhiễm trùng, được bao phủ bởi hệ thống chất kết dính nói tóm gọn dẫn theo chữa lành thương tương đồng với canxi hydroxit.
tuy nhiên , kết quả này biến đổi khi tác dụng được chu chỉnh từ các phân tích về sự việc lộ tủy cơ học, bị nhiễm vi khuẩn ở động vật linh trưởng.
cơ chế thử nghiệm này đc lựa chọn để gần giống với trường hợp mà thậm chí gặp gỡ phải nếu tủy răng giao tiếp với sâu răng hoặc không có đê cao su tại chỗ. Các chỗ đứng phơi nhiễm bị nhiễm khuẩn, công dụng của chất kết dính trong các công việc chữa lành tủy kém hơn so với canxi hydroxit.
lúc công dụng của các nghiên cứu về tủy răng trên người được nhìn nhận xét, những Tóm lại trở nên rất khác so với những gì đã đc suy luận từ những nghiên cứu trên động vật.
Bảng 1 Tóm tắt một số phân tích bên trên người so sánh việc che tủy bằng canxi hydroxit với chất kết dính.
giữa những phân tích đc trích dẫn trong Bảng 1, canxi hydroxit đã nâng cấp đáng chú ý việc sửa chữa thay thế tủy so với khối hệ thống kết dính, bất kể đó là khối hệ thống dán total-etch hay self-etch.
so sánh công dụng nghiên cứu và phân tích trên người về che tủy mật thiết đối chiếu canxi hydroxit với khối hệ thống kết dính

Bảng 1: đối chiếu việc che tủy bằng canxi hydroxit với chất kết dính.
nguyên liệu che tủy đc hiển thị trong cột "Kết quả" diễn đạt hiệu suất xuất sắc hơn đáng chú ý của canxi hydroxit trong mọi trường hợp.
Histo trong bảng 1
“Histo” đề cập đến việc nghiên cứu và phân tích mô học có đc tiến hành như 1 phần của bình chọn tác dụng hay là không .
có một số lý luận khả thi cho các tác dụng kém này trong số phân tích trên người. Trước nhất là những tác động gây độc tế bào trực tiếp mà chất kết dính xảy nên đối với tế bào tủy răng.
tác dụng bao che kém này thậm chí do một hoặc nhiều tại sao . Các phần tử etch & primer của keo dán là chất giãn mạch, thậm chí làm tăng ra máu làm nhiễm bẩn ngà răng sát bên & làm giảm độ bám dính.
độ ẩm tăng lên ở đoạn lộ tủy làm giảm sự trùng hợp của chất kết dính. Điều này có tác động có hại kép là làm giảm độ kết dính & tăng tính khả dụng của chất không trùng hợp, & do đấy các cơ quan ô nhiễm hơn của chất kết dính.
cuối cùng , các cơ quan nhựa làm giảm phản ứng miễn dịch của tủy răng, làm cho tủy răng ít có chức năng tự đảm bảo an toàn chống lại sự nhiễm vi khuẩn .
kết luận
những phát hiện này đã đc xác thực trong một đánh giá về sự việc che tủy với chất kết dính, trong các số đó de Souza Costa và cộng sự đã Kết luận như sau:
- Chất kết dính kéo theo việc chữa lành tủy răng kém hơn;
- Chất kết dính dẫn đến triệu chứng viêm mãn tính, ngay cả lúc không có vi khuẩn;
- Viêm là một trong những môi trường xung quanh có hại để chữa lành tủy; tủy răng bị viêm do đau răng sẽ bớt kinh nghiệm chữa lành.
4. Canxi Hydroxit
Canxi hydroxit đc giới thiệu vào ngành các nha sĩ vào năm 1921 và đã được coi là “tiêu chuẩn chỉnh vàng” của vật liệu che tủy trực tiếp trong vài thập kỷ. Có một số ưu điểm nổi bật của canxi hydroxit đã khiến cho nó nhận được sự công nhận này.

tác dụng Canxi Hydroxit
Canxi hydroxit có đặc tính kháng khuẩn tuyệt vời. Một phân tích cho thấy bớt 100% những con vi sinh vật liên quan đến nhiễm trùng tủy răng sau đó 1 giờ tiếp xúc với canxi hydroxit.
trực tiếp nhất, canxi hydroxit đã được theo dõi và quan sát dài lâu về chiến thắng lâm sàng như 1 chất che tủy quan trọng trong time lên tới mức 10 năm.
mặc dù tỷ lệ thắng lợi giảm đã đc tìm thấy trong các phân tích, trong những số đó sinh viên nha sĩ là người thực hành.
điểm yếu Canxi Hydroxit
Canxi hydroxit cũng có một số trong những nhược điểm. Các công thức tự trùng hợp có tính hòa tan cao & có thể bị hòa tan theo số giờ , mặc dù người ta đã xem xét rằng, theo thời gian canxi hydroxit bị mất đi do hòa tan lúc đó cầu ngà đã đc hình thành .
Canxi hydroxit không có chất kết dính vốn có và là một trong những miếng trám kém. Một ăn hại khác đc ghi nhận về canxi hydroxit là sự việc lưu hành của cái có tên gọi là "khiếm khuyết đường hầm" trong ngà răng so sánh đc hình thành bên dưới tủy răng được che bởi canxi hydroxit.
Một khiếm khuyết đường hầm được biểu đạt như 1 vết nứt từ chỗ đứng lộ tủy qua lớp ngà tới tủy răng, nhiều khi có sự hiện diện của nguyên bào sợi và mao mạch.
mặc dù vậy , những nhà nghiên cứu và phân tích khác đã bắt gặp ra rằng chất lượng của ngà răng đối chiếu được nâng cấp khi cầu răng dày hơn, & nhiều đợt , những khiếm khuyết đường hầm không liên quan đến tủy răng.
Có vẻ tựa như các khiếm khuyết đường hầm không hẳn là phát hiện thịnh hành trong các nghiên cứu bên trên người liên quan đến việc che tủy quan trọng bằng canxi hydroxit.
Có ít nghiên cứu và phân tích chú ý quan sát những khiếm khuyết đường hầm & nhiều nghiên cứu và phân tích không quan sát những khiếm khuyết đường hầm.
những công dụng trực tiếp của Canxi hydroxit
Canxi hydroxit đc cho là có chức năng sửa chữa tủy răng bằng một hoặc nhiều chế độ chuyển động .
Canxi hydroxit có đặc tính kháng khuẩn , và điều này thậm chí hạn chế và giảm thiểu hoặc loại trừ sự xâm nhập của những con vi sinh vật vào tủy răng.
Theo truyền thống, người ta có niềm tin rằng độ pH cao của canxi hydroxit gây kích động mô tủy, kích thích quá trình thay thế thông qua trong số những cơ chế chưa đc biết đến.
trong những năm vừa mới đây, “cơ chế chưa biết” này mà thậm chí được trình bày bằng cách giải phóng những phân tử hoạt tính sinh học.
Người ta đã biết rằng nhiều dạng protein được phối kết hợp vào chất nền ngà răng trong quá trình tạo mầm.
đặc trưng so với chủ đề che tủy là ít nhất hai trong những các protein này, Protein hình thái xương (BMP) và nhân tố tăng trưởng biến đổi-Beta One (TBF-β1), đã minh chứng thời gian làm việc kích động chữa lành tủy răng.
hơn nữa , canxi hydroxit đc biết là có chức năng hòa tan những protein này khỏi ngà răng, cho thấy thêm sự tin tưởng vào việc giải phóng các phân tử hoạt tính sinh học này như 1 chất trung gian mật thiết trong công việc thay thế sửa chữa tủy răng sau khi đóng tủy răng.
Tổng quan sản phẩm che tủy quan trọng có chứa Canxi hydroxit

Calcium hydroxide Dharma

Che tủy Dycal - Dentsply

Che tủy chiếu đèn Ultra Blend
tất cả dòng sản phẩm che tủy quan trọng có chứa Canxi hydroxit
5. Che tủy trực tiếp MTA - Mineral Trioxide Aggregate
Mineral Trioxide Aggregate (MTA) đã thu hút được sự chăm sóc đáng chú ý với tư cách là chất che tủy quan trọng trong những năm cách đây không lâu .

Che tủy trực tiếp MTA là gì
MTA chủ yếu là oxit canxi ở dạng tricalcium silicate, dicalcium silicate và tricalcium aluminat.
Oxit bitmut đc thêm vào để tăng mức độ phóng xạ. MTA được nhìn nhận là xi măng silicat hơn là hỗn hợp oxit, & do đó tính tương hợp sinh học của nó là bởi vì những dòng sản phẩm phản ứng của nó .
Điều hấp dẫn là dòng sản phẩm phản ứng chính của MTA với nước là canxi hydroxit, và vì vậy nó sự thật là việc hình thành của calci hydroxit cung cấp khả năng tương ứng sinh học của MTA.
tác dụng của MTA
do đấy, nhiều điểm mạnh và chế độ vận động kim chỉ nam của MTA cũng như canxi hydroxit, bao gồm:
- Đặc tính chống khuẩn
- Tương hợp sinh học
- Độ pH cao, độ phóng xạ & thời gian làm việc hỗ trợ giải phóng những protein nền ngà hoạt tính sinh học.
có một số khác hoàn toàn giữa MTA và canxi hydroxit. Trước nhất , MTA có hai màu là trắng và xám. Phiên bản màu xám là do bổ sung cập nhật sắt.
Một sự khác biệt đáng kể khác là MTA hỗ trợ một trong những chất làm bí ẩn cho cấu trúc răng.
điểm yếu kém của MTA
cũng có thể có một trong những nhược điểm của MTA. Nó đã cho thấy độ hòa tan cao, minh chứng mất 24% sau 78 ngày lưu trữ trong nước. Sự hiện diện của sắt trong công thức MTA màu xám có thể tác động đến màu răng.
điểm yếu đáng chú ý của MTA là thời gian đông kéo dài trong suốt thời gian khoảng 2 giờ và 45 phút. Điều này nhu yếu việc che tủy với MTA hoặc được triển khai theo công đoạn hai bước:
Đặt tái khôi phục tạm bợ để được cho phép MTA thiết lập trước khi đặt phục hình lâu dài hoặc sử dụng lớp lót nhanh chóng và kịp thời để đảm bảo MTA trong khoảng thời gian tái khôi phục dài lâu .
những đặc tính giải pháp xử lý của MTA dạng bột-lỏng rất khác so với những công thức canxi hydroxit dạng bột nhão nổi bật mà phần đông các học sinh đều thấy dễ cách xử lý .
lúc đối chiếu với những công thức canxi hydroxit dạng sệt này, MTA rất đắt. Một gam bột MTA có giá tương thích với 24 gam chất xúc tác / nền canxi hydroxit, để cho MTA đắt hơn nhiều cho mỗi đợt sử dụng quá.
những phân tích về MTA và canxi hydroxit.
Một nghiên cứu và phân tích bình chọn so sánh công dụng che tủy trực tiếp trên động vật của MTA với canxi hydroxit, cho biết thời gian làm việc chữa lành tủy tốt hơn với MTA.
cũng tương tự các nghiên cứu so sánh thời gian làm việc che tủy giữa chất kết dính với canxi hydroxit, hiệu quả biệt lập lúc đối chiếu MTA với canxi hydroxit ở người.
Bảng 2 minh chứng rằng số đông các nghiên cứu và phân tích bên trên người đều cho biết thêm công dụng tương tự về MTA và canxi hydroxit.
Bảng 2: hiệu quả tương tự về MTA & canxi hydroxit.
tuy nhiên , hai trong những nghiên cứu này chứng minh công dụng vượt trội của MTA, và cả hai đều có chung một điểm sáng nghiên cứu và phân tích thú vị: răng che tủy được phục hồi bằng nguyên liệu ZOE tạm bợ so với khôi phục lâu dài hơn cho các tác dụng khác.
Như đã thảo luận trong phần về ZOE, các nguyên liệu này bị rò rỉ đáng kể & mất đi kịp thời việc giải phóng eugenol chống khuẩn .
do vậy , các công dụng này mà thậm chí chỉ ra rằng kinh nghiệm của MTA để trùm kín sự giao tiếp của tủy mà canxi hydroxit không tồn tại .
các nghiên cứu bổ sung cập nhật trên người tiêu dùng MTA làm tác nhân che tủy duy nhất mà không tồn tại nhóm đối chứng chỉ ra chiến thắng tốt trong thời gian từ sáu tháng đến bốn năm.
Bảng 2 đối chiếu các hiệu quả nghiên cứu bên trên người của việc che tủy mật thiết bằng Canxi Hydroxit với MTA

Bảng 2: đối chiếu về MTA và canxi hydroxit
Histo trong bảng 2
“Histo” đề cập đến việc phân tích mô học có được triển khai như 1 phần của bình chọn tác dụng hay không.
bên trên trung tâm những tài liệu cho đến bây giờ, có vẻ như MTA thậm chí thắng lợi do thực ra là nó đóng trách nhiệp như một bể chứa canxi hydroxit và / hoặc khả năng cung cấp niêm phong ở đoạn tiếp xúc với tủy răng.
mặc dù cho MTA che kín xuất sắc hơn canxi hydroxit, nhưng cần suy xét rằng nên có Glass Ionomer (GI) hoặc Resin Modifier Glass Ionomer (RMGI) làm lớp lót.
Trong tình huống canxi hydroxit, lớp lót GI / RMGI là mật thiết để bổ trợ một lớp niêm phong chống khuẩn đảm bảo an toàn mà một mình canxi hydroxit không hề hỗ trợ .
Trong tình huống MTA, lớp lót GI / RMGI là trực tiếp để đảm bảo an toàn MTA trong thời gian trám tái khôi phục do thời gian đông của MTA kéo dài trong suốt thời gian .
còn nếu như không có lớp lót đảm bảo an toàn GI / RMGI này, sẽ rất cần được đặt khôi phục không ổn định trong một khoảng thời gian cho đến khi MTA đông cứng trọn vẹn , nhu yếu người mắc bệnh đến cuộc hẹn thứ hai để đc trám chấm dứt .
kết quả của MTA đang trên mức cho phép
săn chắc công dụng của các nghiên cứu và phân tích che tủy lạm dụng quá MTA là đáng khích lệ. Dẫu thế , có vẻ như 1 số tuyên bố về kết quả của MTA như 1 tác nhân che tủy hoàn hảo không được minh chứng bởi công dụng phân tích .
Hai cụ thể có thể giúp nắm rõ điều này . Một phân tích đã đưa ra công bố sau: “Dựa trên công dụng của phân tích hiện tại & những phân tích có tương quan khác.
MTA vượt trội hơn canxi hydroxit trong việc che tủy quan trọng do lộ tủy cơ học ở người.” Trong phân tích này, các tủy răng của 14 chiếc răng đã được cố ý biểu hiện , một nửa được che tủy bằng canxi hydroxit & nửa sót lại với MTA. Răng được nhổ ở một, hai, ba, bốn tuần & sáu tháng và được coi về mặt mô học.
Đến kỳ bình chọn sau cùng (sáu tháng), mỗi nhóm chỉ có 1 răng được nhìn nhận . Có quá ít mẫu vật để nghiên cứu thống kê . Với các tác dụng này, có vẻ như Đánh Giá về tính ưu việt của MTA là chưa đủ trung tâm.
Trong một bài báo khác, các tác giả cho thấy , “Các công dụng cho biết MTA là nguyên vật liệu che tủy răng dễ dự đoán hơn đối với canxi hydroxit.” Bốn mươi chín chiếc răng được che tủy trực tiếp MTA và đc theo dõi trung bình khoảng bốn năm.
đánh giá lâm sàng cho thấy sự chiến thắng cụ thể 98% so với răng che tủy. Mặc dù thế , không tồn tại nghiên cứu và phân tích mô học nào đc tiến hành để bình chọn triệu chứng sự thật của tình trạng sức khỏe tủy răng.
mật thiết nhất, không tồn tại nhóm đối chứng canxi hydroxit nào đc đưa vào phân tích , và do đó, không hề Kết luận rằng MTA là nguyên liệu che tủy dễ dự đoán hơn canxi hydroxit trong đánh giá này.
kết luận về MTA & Canxi hydroxit
Canxi hydroxit có hỗ trợ bất kể ích lợi nào đối với MTA không? MTA là 1 nguyên vật liệu đầy hứa hẹn, nhưng canxi hydroxit cho biết một hồ sơ chiến thắng lâm sàng lâu bền hơn mà MTA không còn khẳng định vào thời điểm hiện tại.
đánh giá về 14 nghiên cứu và phân tích lâm sàng, bao gồm hơn 2.300 tình huống che tủy bằng canxi hydroxit, ghi nhận tỷ lệ thắng lợi lên đến 90% khi được tiến hành bởi các Bác Sỹ lâm sàng có kinh nghiệm .
Bài báo bình chọn này nêu bật hai vấn đề quan trọng thắng lợi trong những việc che tủy trực tiếp bằng canxi hydroxit: giảm bớt che tủy đến răng không có tình trạng và phục hình kín sau che tủy răng.
thắng lợi của canxi hydroxit trong thí nghiệm so với MTA
mặt khác, canxi hydroxit đã chứng minh thắng lợi về mặt lâm sàng trong cả lúc đc thực hiện trong những tình huống kém lý tưởng.
Một nghiên cứu và phân tích dai dẳng ba năm bên trên 44 tủy răng giao tiếp nghiêm trọng được bao trùm bởi canxi hydroxit kéo theo tỷ lệ chiến thắng là 80 %.
Ba mươi bốn chiếc răng tiếp xúc do chấn thương đã trải qua khoảng thời gian trì hoãn khoảng bốn giờ trước khi che tủy canxi hydroxit cho biết thành công 97% lúc đc theo dõi trong thời gian lên tới 17 năm.
để làm sáng tỏ rõ hơn lợi ích tương đối của MTA đối với canxi hydroxit trong công việc che tủy, cần có một thử nghiệm lâm sàng mục tiêu mô hình lớn để đối chiếu MTA với canxi hydroxit như 1 nguyên vật liệu che tủy trực tiếp.
NW PRECEDENT, một mạng lưới nghiên cứu dựa theo thực hành đc NIDCR bổ trợ đã nhập cuộc vào một trong những phân tích như thế
Như bạn đã thấy bây chừ những tác dụng thí nghiệm che tủy trực tiếp canxi hydroxit vẫn là hiệu quả cao nhất được rất nhiều các nha sĩ lạm dụng cho chính mình .
Nhận xét
Đăng nhận xét